Gia su | day kem |   xây nhà  | Hoan thien nha

    Thứ hai, Ngày 21/04/2014
Trang chủ Hướng dẫn Đăng ký thành viên  
 
TÀI KHOẢN
Username
Password
 Đăng ký thành viên
 Quên mật khẩu
 Báo cáo TT, đề án môn học
 Bảo hiểm, bảo hành
 Cạnh tranh, thương mại
 Chất lượng sản phẩm
 Chi phí, giá thành
 Chuyên đề kỹ thuật
 Du lịch, Khách sạn
 Hoạt động đấu thầu
 Huy động và sử dụng vốn
 Kế toán, Kiểm toán
 Kinh tế đầu tư
 Lao động, tiền lương
 Luật , thuế, hợp đồng
 Marketing, Quảng cáo
 Ngân hàng - Tài chính
 Nguyên vật liệu
 Nông , lâm, ngư nghiệp
 Quản trị kinh doanh
 Quản trị nhân lực
 Tài liệu tổng hợp
 Thể loại khác
 Thống kê , kiểm kê
 Tiểu luận KTCT, Triết ..
 Tiêu thụ sản phẩm
 Tin học, Ứng dụng
 Triết học, CNXH, Đảng
 Xuất nhập khẩu
12 - 72942977
 
Loading

Khuyến mại đặc biệt điện thoại tại duylongmobile.com

Tiểu luận KTCT, Triết ..

   Cơ hội và thách thức với Việt Nam khi gia nhập AFTA và CEPT

Số trang: 20 Trang
Loại file: MS word
Phí: 3.000 Xu
Download
  Thông tin chi tiết

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của hiệp hội các nước Đông Nam á - ASEAN. Sự kiện trọng đại này đã đánh dấu một thành công to lớn của chính sách đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế. Vào đầu những năm 90, ở thời kỳ hậu chiến tranh lạnh kinh tế các nước ASEAN đứng trước những  thách thức lớn khiến cho các nước ASEAN không dễ vượt qua nếu không có sự cố gắng chung của toàn hiệp hội đó là sự xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực như EU, NAFTA mà ASEAN e ngại sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, do đó sẽ làm cho hàng hoá của ASEAN vấp phải những trở ngại khi xâm nhập vào thị trường này.
Mặt khác ASEAN đang mất dần lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực để thu hút đầu tư nước ngoài so với Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu. Kinh tế ASEAN tăng trưởng với nhịp độ cao nhưng vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn từ bên ngoài.
Năm 1992 theo sáng kiến củaThái Lan Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN họp tại Xingapore đã quyết định thành lập khối mậu dịch tự do ASEAN gọi tắt là AFTA - một thị trường chung rộng lớn trong lòng Đông Nam á với 3 mục tiêu cơ bản.
Một là: Tự do hoá thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan.
Hai là: Thu hút các nhà đầu tư, nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối tiền tệ thống nhất.
Ba là: Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển các thoả thuận thương mại khu vực trên thế giới. Đặc biệt việc thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan hiệu lực chung (CEPT) thực hiện giảm thuế quan trong thươngmại nội bộ trong vòng 10 năm (1993 - 2003) xuống còn 0- 5% đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan. Điều này có ý nghĩa quan trọng và tác động sâu rộng đến nền kinh tế mỗi quốc gia.
Việt Nam tham gia vào AFTA là một tất yếu khách quan, không những vì Việt Nam đã là một thành viên của ASEAN mà còn do các tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Việc hội nhập vào AFTA sẽ tạo điều kiện hình thành những mối quan hệ kinh tế, mở rộng hơn giữa nền kinh tế của Việt Nam với khuôn khổ kinh tế chung của khu vực và thế giới. Đây chính là cơ hội mới để nền kinh tế Việt Nam bắt kịp với những xu hướng chung của khu vực và thế giới, tìm ra tiếng nói chung, chia sẽ trách nhiệm và lợi ích với cộng đồng quốc tế mà trước hết là với các nước trong khối mậu dịch tự do AFTA, mở ra một thế đứng vững vàng hơn trong quan hệ của Việt Nam với các liên minh kinh tế khác, đặc biệt là với liên minh Châu Âu (EU), với khu vực mậu dịch tự Bắc Mỹ (NAFTA) cũng như với tổ chức thương mại thế giới (WTO) và với diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC). Hơn nữa hội nhập vào AFTA còn là điều kiện để Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tê theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đưa Việt Nam thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Chính vì lẽ đó mà việc hội nhập vào AFTA và thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan hiệu lực chung (CEPT) là một tất yếu trong tiến trình phát triển nền kinh tế nước nhà:
Tuy nhiên cùng với những cơ hội đang mở ra, việc hội nhập của Việt Nam vào AFTA cũng gặp không ít khó khăn trở ngại, đặc biệt là nền kinh tế nước ta còn ở tình trạng nghèo nàn, thu nhập quốc dân đầu vào còn rất thấp, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn rất nhỏ bé, nhiều nguồn lực của nền kinh tế chưa có đủ điều kiện để khai thác, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới còn thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hệ thống luật pháp còn yếu và chưa tương thích với luật pháp của các quốc gia trong khu vực.
Chính những khó khăn và trở ngại trên đã buộc các nhà quản lý, các nhà khoa học phải nghiên cứu, xem xét thảo luận, phân tích đánh giá những cơ hội thử thách đồng thời phát hiện những thuận lợi, khó khăn của Việt nam khi gia nhập AFTA và thực hiện chương trình và đã thể quan hiệu lực chung (CEPT) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần tiếp sau đây.

II. LÝ LUẬN CHUNG
Hội nhập AFTA: đây là vấn đề hết sức mới mẻ đối với Việt Nam chính vì vậy những vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi  phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển và đánh giá một cách đầy đủ ở nhiều góc độ khác nhau không những  ở khía cạnh kinh tế mà ở cả những khía cạnh đơn vị, xã hội và an ninh quốc phòng, không những ở tầm vĩ mô mà còn ở tầm vi mô.
1. Những vấn đề hội nhập khu vực và những lợi ích chủ yếu do hội nhập mang lại.
1.1.   Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó:
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độ khá nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đầu với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhất, một hệ thống tài chính  tín dụng toàn cầu, là việc phát triển và mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu; là việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên, môi trường. Trong khi đó khu vực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một không gian địa lý nhất định giữa nhiều hình thức như: khu vực mậu dịch tự do, đồng minh thuế quan, đồng minh tiền tệ, thị trường chung, đồng minh kinh tế... Nhằm mục đích hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản, lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ... tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển  nói trên giữa các nước thành viên trong khu vực.
Xu hướng tham gia hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng việc đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Việc thamgia mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế khu vực, từng bước tiến tới sự thống nhất cao thông qua các văn bản, hiệp định ký kết đã đưa lại cho các quốc gia trong liên minh sự ổn định hợp tác cùng phát triển. Trong điều kiện đó các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưu đãi về thương mại cũng như phải gánh vác các nghĩa vụ tài chính, giảm thuế cũng như các miễn giảm khác.
Trước tình hình đó đã đặt ra cho các quốc gia đang phát triển thế giới nói chung và các quốc gia Đông Nam á nói riêng những cơ hội và thành thức mới. Cho đến nay đã hình thành hàng chục khối liên kết kinh tế quốc tế giữa các nước đang phát triển ở Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi, Châu á...
Sự liên kết giữa các quốc gia đang phát triển ngoài mục tiêu hợp tác, hỗ trợ nhau phát triển, còn nhằm mục tiêu chống lại các chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển.
Để từng bước hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu ngày 8/8/1967 các Bộ trưởng ngoại giao của 5 nước Inđônêxia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã ký bản tuyên bố ASEAN tại Bangkok và từ đó hiệp hội các quốc gia Đông Nam á được chính thức thành lập, ngày 28/7/1995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 và bây giờ 10 thành viên của khu vực đã hội tụ đầy đủ, sẵn sàng giải quyết những vấn đề khu vực cũng như toàn cầu  có liên quan.
Tuy nhiên cần phải thấy rằng khu vực hoá kinh tế và toàn cầu hoá kinh tế vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau. Chúng thống nhất với nhau ở những quy tắc thể chế, luật chơi chung mà bất cứ một khu vực nào cũng phải tuân theo ngược lại những vấn đề đặc thù có thể là đối tượng, đặc trưng riêng của từng liên kết khu vực.
Việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực và sự hội nhập của từng quốc gia vào nền kinh tế các nước trong khu vực với những mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực liên kết và hình thức liên kết.
+ Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do (Free Trade Area): là liên minh giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm mục đích tự do hoá việc buôn bán đối với một hoặc một số mặt hàng nào đó.
Đặc trưng của nó là việc xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo lập một thị trường thương mại của khu vực.
+ Liên minh thuế quan (Customs Union).
Đây là giai đoạn tăng cường mức độ hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên. Các quốc gia trong liên minh bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và hạn chế về mậu dịch khác giữa các quốc gia thành viên còn cần phải thiết lập một biểu
Các Tags thường tìm kiếm: thành tuu cua viet nam khi thuc hien afta ; nhung thuan loi khi gia nhap apec ; khó khăn nông nghiệp khi gia nhập AFTA ; Việt Nam khi gia nhập AFTA và CEPT ; afta la hinh thuc lien ket ; ngày việt nam chính thức gia nhập afta ; Thách thức AFTA và công nghiệp Việt Nam ; cơ hội và thách thức khi hiệp định AFTA ; thach thuc khi viet gia nhap afta ; so lieu thach thuc khi viet gia nhap afta ; nhung co hoi khi viet nam tham gia afta ; afta co hoi va thach thuc ; việt nam gia nhập afta ; co hoi va thach thuc khi viet nam gia nhap afta ; nhung van de gap phai khi viet nam ra nhap afta ; viet nam khi gia nhap afta ; thuận lợi của việt nam khi gia nhập AFTA ; viet nam gia nhap asean co hoi va thach thuc ; báo khoa hoc về việc Việt Nam hội nhập AFTA ; cơ hội và thách thức khi việt nam tham gia AFTA ; cơi hội và thách thức khi gia nhập cept ; cơ hội và thách thức khi gia nhập asean ; bai tieu luan afta va su hoi nhap cua viet nam ; co hoi va thach khi khi VN gia nhap afta ;
Bookmark and Share

Các tài liệu khác

TT Tiêu đề Trang Download
1

Hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại cty Sông Đà 2

166 Trang
2

Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu của nhà nước

172 Trang
3

Kỷ yếu hội thảo khoa học - Kinh tế tri thức

173 Trang
4

Economic Development of the Mekong Delta in Vietnam

292 Trang
5

Sự bí ẩn của Tư Bản

304 Trang
6

Kinh tế vĩ mô - TS Lê Xuân Nghĩa

137 Trang
7

Suy nghĩ lại sự thần kì Đông Á

189 Trang
8

Kinh tế quốc tế

145 Trang
1

Tại sao nước ta phải phát triển KTTT định hướng XHCN. Muốn vậy ta phải làm gì ?liên hệ với Hà Nội

14 Trang
2

Nội dung và ý nghĩa của thoả ước lao động tập thể. Trình bày một bản thoả ước cụ thể tại một doanh nghiệp

14 Trang
3

Nh÷ng nguyªn t¾c ph©n phèi thu nhËp trong kinh tÕ thÞ tr­êng ®Þnh h­íng x· héi chñ nghÜa ë ViÖt Nam

32 Trang
4

Trình bày tác động làm ô nhiễm bầu không khí tập thể của điều phối hoạt động của Doanh nghiệp yếu kém

34 Trang

 
 
 

Copyright © 2011  KHODETAI.COM  All rights reserved.

cung cấp iphone cudien thoai sky |  dịch vụ sua chua laptopchuyên cửa cuốn  tại Hà Nội | son nha | Thi cong ep coc be tong | cho thue xe cau tại hà nội

(Những tài liệu có được từ website chỉ có tính chất tham khảo để nhận xét, rút kinh nghiệm và rút ra cách thức cho công việc của mình, yêu cầu không sao chép. Website  đang trong quá trình thử nghiệm mong nhận được sự góp ý của các bạn.)

 

Thu nhỏ
xe cau tu hanh
cua cuon
duy long