Gia su | day kem |   xây nhà  | Hoan thien nha

    Thứ ba, Ngày 29/07/2014
Trang chủ Hướng dẫn Đăng ký thành viên  
 
TÀI KHOẢN
Username
Password
 Đăng ký thành viên
 Quên mật khẩu
 Báo cáo TT, đề án môn học
 Bảo hiểm, bảo hành
 Cạnh tranh, thương mại
 Chất lượng sản phẩm
 Chi phí, giá thành
 Chuyên đề kỹ thuật
 Du lịch, Khách sạn
 Hoạt động đấu thầu
 Huy động và sử dụng vốn
 Kế toán, Kiểm toán
 Kinh tế đầu tư
 Lao động, tiền lương
 Luật , thuế, hợp đồng
 Marketing, Quảng cáo
 Ngân hàng - Tài chính
 Nguyên vật liệu
 Nông , lâm, ngư nghiệp
 Quản trị kinh doanh
 Quản trị nhân lực
 Tài liệu tổng hợp
 Thể loại khác
 Thống kê , kiểm kê
 Tiểu luận KTCT, Triết ..
 Tiêu thụ sản phẩm
 Tin học, Ứng dụng
 Triết học, CNXH, Đảng
 Xuất nhập khẩu
1 - 77045975
 
Loading

Khuyến mại đặc biệt điện thoại tại duylongmobile.com

Tiểu luận KTCT, Triết ..

   Đồ án hóa - xúc tác

Số trang: 86 Trang
Loại file: MS word
Phí: 5.000 Xu
Download
  Thông tin chi tiết
MỞ ĐẦU
Công nghiệp lọc hoá dầu là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trên thế giới hiện nay, do nó có những ứng dụng quan trọng như:
- Cung cấp các sản phẩm năng lượng cho nhu cầu về nhiên liệu động cơ, nhiên liệu công nghiệp và các sản phẩm về dầu mỡ bôi trơn.
- Cung cấp các hoá chất cơ bản cho ngành tổng hợp hoá dầu và hoá học, tạo ra sự thay đổi lớn về cơ cấu phát triển các chủng loại sản phẩm của ngành hoá chất, vật liệu. Hoá dầu đã thay thế dần dần hoá than đá và vượt lên công nghiệp chế biến than.
Công nghiệp chế biến dầu phát triển mạnh mẽ là nhờ các đặc tính quý riêng của nguyên liệu dầu mỏ mà nguyên liệu từ than hoặc các khoáng chất khác không thể có được, đó là giá thành thấp, thuận tiện cho quá trình tự động hoá, dễ khống chế các điều kiện công nghệ và có công suất chế biến lớn, sản phẩm thu được có chất lượng cao, ít tạp chất và dễ tinh chế, dễ tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm đáp ứng mọi nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân.
Trong số các sản phẩm năng lượng dầu mỏ, trước hết phải kể đến nhiên liệu xăng. Xăng cho động cơ ngày nay đã được nâng cấp rất nhiều về chất lượng, hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của động cơ có tỷ số nén cao, hoạt động ổn định trong mọi điều kiện, không có hoặc rất ít độc tố có hại cho con người và môi trường. Tiếp đến là các loại nhiên liệu phản lực và diezel, các loại nhiên liệu này đã góp phần phát triển các loại động cơ có kích thước gọn nhưng lại có công suất lớn, có tải trọng cao, hiệu suất nhiệt hiệu dụng cao hơn nhiều so với động cơ xăng trước đây có cùng kích thước...
Các sản phẩm phi năng lượng như các loại dầu mỡ bôi trơn, các loại dầu mỡ công nghiệp cũng chiếm phần quan trong không kém. Tất cả các máy móc, động cơ ...đều cần phải có dầu mỡ bôi trơn. Người ta ví dầu mỡ bôi trơn như là nguồn máu nóng trong động cơ.
Do tầm quan trọng của ngành công nghiệp lọc hoá dầu nên hiện nay việc nghiên cứu để tăng chất lượng của các sản phẩm dầu mỏ cũng như giảm tối thiểu khả năng gây ô nhiễm môi trường đang được các quốc gia hết sức quan tâm.
Trong công nghệ lọc hoá dầu có các công đoạn chủ yếu như:
-Quá trình chế biến nhiệt.
-Quá trình Cracking xúc tác.
-Quá trình Reforming xúc tác.
-Quá trình Alkyl hoá.
-Quá trình hydrocracking.
-Quá trình Izome hoá.
Trong các quá trình trên thì hai quá trình Cracking xúc tác và quá trình Reorming xúc tác có một vai trò quan trong trong việc sản xuất ra các nhiên liệu xăng có chỉ số octan cao cho ôtô và máy bay. Việc tìm ra các xúc tác như Zeolit( cho quá trình Cracking xúc tác ), Pt/Al2O3 ( cho quá trình Reforming xúc tác ) và tổng hợp được chúng đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp này. Sự ứng dụng của chúng không những làm tăng cả số lượng, chất lượng của các sản phẩm dầu mỏ mà còn góp phần nâng cao hiệu suất của các quá trình chế biến một cách đáng kể.
Trong đồ án này em xin trình bày về hai chất xúc tác Zeolit và Pt/Al2O3 được ứng dụng chủ yếu trong hai quá trình Cracking xúc tác và Reforming xúc tác.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÚC TÁC
Trong công nghiệp chế biến dầu mỏ các quá trình chuyển hoá hoá học dưới tác dụng của các chất xúc tác chiếm tỷ lệ lớn và đóng vai trò rất quan trọng. Chất xúc tác trong quá trình chuyển hoá có khả năng làm giảm năng lượng hoạt hoá của phản ứng, vì vậy tăng tốc độ phản ứng lên rất nhiều. Chỉ cần một lượng nhỏ chất xúc tác có thể tăng vận tốc phản ứng lên đến 10, 100, hàng nghìn lần.
Sự có mặt của chất xúc tác trong quá trình chuyển hoá hoá học vừa có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hoá, vừa có khả năng tạo ra những nồng độ cân bằng cao nhất, có nghĩa là tăng được hiệu suất sản phẩm của quá trình. Sau phản ứng chất xúc tác không thay đổi về thành phần hoá học, nếu có thì chỉ thay đổi tính chất vật lý.
Hơn nữa, chất xúc tác có khả năng tăng nhanh không đồng đều giữa các loại phản ứng mà về phương diện nhiệt độ có thể xảy ra trong cùng điều kiện như nhau. Tính chất này gọi là tính chất chọn lựa của xúc tác. Nhờ tính chất này mà người ta hướng các quá trình chế biến theo phản ứng có lợi nhằm mục đích thu được các sản phẩm chính của quá trình có chất lượng và hiệu suất cao.
Xúc tác được chia làm hai loại chính: Xúc tác đồng thể và xúc tác dị thể. Hầu hết các phản ứng được sử dụng trong công nghiệp hoá học đều là phản ứng xúc tác dị thể, mà các chất tham gia phản ứng và sản phẩm thường là ở trạng thái khí ( hơi ) hoặc lỏng, còn chất xúc tác ở trạng thái rắn hầu hết là vật liệu mao quản.
Với xúc tác dị thể hệ khí-rắn đặc trưng nhất là xúc tác oxit, đa oxit và ngày nay phổ biến nhất là kim loại mang trên chất mang. Chất mang là các vật liệu vô cơ có cấu trúc mao quản. Trong lĩnh vực xúc tác, cấu trúc mao quản của chất mang là hết sức quan trọng. Chúng đảm bảo cho chất xúc tác có thể đạt được hoạt tính cao và độ chọn lọc cao. Chẳng hạn ở nhiệt độ thấp, phản ứng xúc tác có thể xảy ra trong các vật liệu có mao quản nhỏ. Ngược lại, ở nhiệt độ cao phản ứng xúc tác chỉ có thể tiến hành trên các bề mặt mao quản trung bình và mao quản lớn. Ngoài ra chất mang giúp cho quá trình trao đổi nhiệt thuận lợi, không gây sự quá nóng cục bộ, do đó ngăn cản được quá trình hình thành các tiểu phân xúc tác có kích thước lớn từ các tiểu phân có kích thước nhỏ và vì chất mang thường có bề mặt riêng lớn nên nó làm tăng bề mặt riêng của xúc tác.
Việc phân tán kim loại trên chất mang có những ưu điểm sau:
-    Xúc tác được sử dụng một cách dễ dàng, thuận tiện.
-    Có thể dùng cho nhiều kiểu reactor, nếu trong môi trường lỏng xúc tác được thu hồi bằng cách lọc, gạn.
-    Các hạt kim loại cách xa nhau khi nằm trên bề mặt chất mang, do đó chúng không bị “ chập” lại thành hạt to khi nung ở nhiệt độ cao trong môi trường khí khử.
-    Chất mang làm cho các chất trợ xúc tác có thể tiếp xúc rất gần các hạt kim loại
1.    Các dạng hình học của xúc tác và phản ứng (reactor)
-   Xúc tác dạng bụi:    Có kích thước từ 1 150m. Phần lớn tập                                                 trung từ 40  80m.
-   Xúc tác dạng vi cầu:    Kích thước hạt từ 10  150m. So với xúc tác dạng bụi, xúc tác dạng vi cầu trong quá trình làm việc bị mài mòn ít hơn và mất mát xúc tác ít hơn.
 -  Xúc tác dạng hạt cầu lớn: d = 3  6 mm. Độ bền cơ loại này tốt, trong            quá trình làm việc ít bị mài mòn và ít bị vỡ vụn.
-   Xúc tác dạng trụ:    d = 3  4 mm, h = 3  5 mm. Độ bền cơ loại này kém. Trong quá trình sử dụng xúc tác dễ bị vỡ vụn, làm tiêu hao xúc tác lớn.

 
 
 

Copyright © 2011  KHODETAI.COM  All rights reserved.

cung cấp iphone cudien thoai sky |  dịch vụ sua chua laptopchuyên cửa cuốn  tại Hà Nội | son nha | Thi cong ep coc be tong | cho thue xe cau tại hà nội

(Những tài liệu có được từ website chỉ có tính chất tham khảo để nhận xét, rút kinh nghiệm và rút ra cách thức cho công việc của mình, yêu cầu không sao chép. Website  đang trong quá trình thử nghiệm mong nhận được sự góp ý của các bạn.)

 

Thu nhỏ
xe cau tu hanh
cua cuon
duy long