Gia su | day kem |   xây nhà  | Hoan thien nha

    Thứ năm, Ngày 21/08/2014
Trang chủ Hướng dẫn Đăng ký thành viên  
 
TÀI KHOẢN
Username
Password
 Đăng ký thành viên
 Quên mật khẩu
 Báo cáo TT, đề án môn học
 Bảo hiểm, bảo hành
 Cạnh tranh, thương mại
 Chất lượng sản phẩm
 Chi phí, giá thành
 Chuyên đề kỹ thuật
 Du lịch, Khách sạn
 Hoạt động đấu thầu
 Huy động và sử dụng vốn
 Kế toán, Kiểm toán
 Kinh tế đầu tư
 Lao động, tiền lương
 Luật , thuế, hợp đồng
 Marketing, Quảng cáo
 Ngân hàng - Tài chính
 Nguyên vật liệu
 Nông , lâm, ngư nghiệp
 Quản trị kinh doanh
 Quản trị nhân lực
 Tài liệu tổng hợp
 Thể loại khác
 Thống kê , kiểm kê
 Tiểu luận KTCT, Triết ..
 Tiêu thụ sản phẩm
 Tin học, Ứng dụng
 Triết học, CNXH, Đảng
 Xuất nhập khẩu
1 - 77580929
 
Loading

Khuyến mại đặc biệt điện thoại tại duylongmobile.com

Báo cáo TT, đề án môn học

   Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Số trang: 21 Trang
Loại file: MS word
Phí: 3.000 Xu
Download
  Thông tin chi tiết
Lời  nói  đầu

        Phát  triển  kinh  tế  là  đòi  hỏi  tất  yếu  với  mỗi  quốc  gia  nếu  các  quốc  gia  đó  không  muốn  bị  suy  vong , thôn  tính . Từ  giữa  thế  kỷ  20  đến  nay ,  cùng  với  sự  phát  triển  như  vũ  bão  của  khoa  học  và  công  nghệ , kinh  tế  các  nước  phát  triển  rất  mạnh  mẽ   đồng  thời môi  trường  sống  của  con  người  cũng  đã  bị  tàn  phá  hết  sức  nặng  nề.  Vấn  đề  nan  giải  được  đặt  ra  tại  nhiều  quốc  gia hiện  nay  là :  làm  thế  nào  tăng  trưởng  kinh  tế  mạnh  mà  không  tàn  phá  môi  trường  tự  nhiên .  Để  giải  quyết  vấn  đề  này , tăng trưởng  kinh  tế  phải  kết  hợp  với  bảo  vệ  môi  trường  sinh  thái . Cơ sở  lý  luận  cho  vấn  đề  này  đúng  đắn  nhất  chỉ  có  thể  là  triết  học  Mác – Lênin . Do đó , tiểu  luận  này  được  làm với  mục  đích  : phân  tích  rõ  mối  liên  hệ  biện  chứng  giữa  tăng  trưởng  kinh  tế  và  bảo  vệ  môi  trường   sinh  thái   dựa  trên  cơ  sở  nguyên  lý  về  mối  liên  hệ  phổ  biến  của  triết  học  Mác  - Lênin và  việc  thực  hiện  vấn  đề  này  ở  Việt  Nam  ta.
        Tuy  nhiên ,  trong  quá  trình  nghiên cứu  còn  nhiều  thiếu  sót ,  em  rất  mong  nhận  được  sự  góp  ý  và  chỉnh  sửa  của  cô .

















Chương  1.   Nguyên  lý  về  mối  liên  hệ  phổ  biến

1.1    Khái  niệm  mối  liên  hệ
        Từ   xa  xưa, con  người  luôn  có  khát  vọng  tìm  hiểu , khám  phá  thế  giới  xung  quanh ,  vén  bức  màn  bí  mật  chi  phối  đời  sống  tự  nhiên  và  xã  hội .  Do  đó , con  người  luôn  thắc  mắc : Các  sự  vật ,  hiện  tượng ,  quá  trình  có  tác  động  qua  lại  lẫn  nhau  hay  không  hay  chúng  tồn  tại  độc  lập ,  riêng  biệt ?  Và  nếu  chúng  có  mối  liên hệ  với  nhau  thì  cái  gì  quyết  định ,  chi  phối  mối  liên  hệ  ấy  ?  Trong  những  giai  đoạn  khác  nhau ,  câu  trả  lời  cho  các  vấn  đề  trên  rất  khác  nhau .
        Đối  với  vấn  đề  thứ  nhất , trong  lịch  sử  triết  học ,  ta  thấy  hai  quan  niệm  lớn  sau :  Theo  chủ  nghĩa  duy  vật  siêu  hình  thì  thế  gới  như  một  cỗ  máy  khổng  lồ  mà  mỗi  bộ  phận  tạo  nên  nó  luôn  ở  trong  trạng  thái  biệt  động ,  tĩnh  tại .  Với  cách  nhìn  này  thì  con  người  “chỉ  thấy  những  sự  vật   riêng  biệt  mà  không  nhìn  thấy  mối  liên  hệ  qua  lại  giữa  những  sự  vật  ấy , chỉ  nhìn  thấy  sự  tồn  tại   của  những  sự   vật  ấy  mà   không  nhìn  thấy  sự   phát  sinh  và  sự   tiêu  vong   của  những  sự  vật  ấy ,  chỉ  nhìn  thấy  trạng  thái  tĩnh  của  những  sự  vật  ấy  mà  quên  mất  sự    vận  động  của  những  sự  vật  ấy ,  chỉ  nhìn  thấy  cây  mà  không  thấy  rừng .”   Như  vậy ,  các  sự  vật ,  hiện  tượng  trên  thế  giới  đều  không  có  mối  liên  hệ  với  nhau .  Tuy  nhiên  có  một  số  ít  người  theo  quan  điểm  này  cho  rằng  : các  sự  vật , hiện  tượng  có  mối  liên  hệ  với  nhau  nhưng  các  hình  thức  liên  hệ  khác  nhau  không  có  khả  năng  chuyển  hoá  lẫn  nhau , như   giới  vô  cơ và hữu cơ không có  liên  hệ  gì  với  nhau  và  không  chuyển  hoá  cho  nhau . Đối  lập  với  quan  điểm  trên  thì  chủ  nghĩa  duy  vật  biện  chứng  cho  rằng  các  sự  vật ,  hiện  tượng ,  quá  trình  khác  nhau  tồn  tại  độc  lập  nhưng   đều  có  sự  tác  động  qua  lại ,  chuyển  hoá  lẫn  nhau .  Ví   dụ  như  :  môi  trường  của  một  đất  nước  biến  đổi  không  chỉ  tác  động  tới   đời  sống  kinh  tế -  xã  hội  ở  nước  đó   mà  còn  làm  cho  môi  trường  thế  giới  thay  đổi   theo , vì  môi  trường   của  một  đất  nước  là  một  bộ  phận  của  môi  trường  thế  giới .  Từ  đó,  các  hoạt   động  của  con  người ,  giới  tự  nhiên  thế  giới  cũng  chịu  ảnh  hưởng  dù  ít  hay  nhiều.
        Trả  lời  vấn  đề  thứ  hai ,  những  nhà  duy  tâm  khách  quan  và  duy  tâm  chủ  quan  đều  đi  tìm  câu   trả  lời  xuất  phát  từ  bên  ngoài  hoặc  bên  trong  con  người . Theo  các  nhà  triết  học  duy  tâm  khách  quan  như  Platon , Hêghen  cho  rằng  “ ý  niệm  tuyệt  đối ”  là  nền  tảng  của  mối  liên  hệ   giữa  các  sự  vật , hiện  tượng .  Còn  Beccli ,  nhà  triết  học  duy  tâm  chủ  quan   đã  đưa  ra  một  mệnh  đề   nổi  tiếng : “  Vật  thể  trong  thế  giới  quanh  ta  là  sự  phức  hợp  của  cảm  giác ”.
Điều  này  có  nghĩa  là :  mối  liên  hệ  giữa  các  sự  vật  ,  hiện  tượng  được  nhận  biết  dựa  trên  cảm  giác  của  con  người . Các  nhà  duy  vật  biện  chứng    đã  có  quan  điểm   hoàn  toàn  khác  với  các  quan  điểm  trên . Họ  thấy  rằng , tuy  trong  thế  giới  xung  quanh  ta ,  các  sự  vật ,  hiện  tượng  thì   vô  cùng  đa  dạng ,  phong  phú  nhưng  chúng  thống  nhất  với  nhau  ở  tính  vật  chất .  Điều  này  có  nghĩa  là  mọi  bộ  phận  của  thế  giới  vật  chất  đều  có  mối  liên  hệ  thống  nhất ,  biểu  hiện  ở  chỗ  chúng  đều  là   những  dạng  cụ  thể  của  vật  chất ,  là  những  kết  cấu  vật  chất  ,  hoặc  có  nguồn  gốc  vật  chất ,  do  vật  chất  sinh  ra  và  cùng  chịu  sự  chi  phối  của  những  quy  luật  khách  quan  phổ  biến  của  thế  giới  vật  chất .  Các  sự  vật  ,  hiện  tượng  luôn  không  ngừng  biến  đổi  ,  chuyển  hoá ,  là  nguồn  gốc  ,  nguyên  nhân  và  kết  quả  của  nhau.  Do  vậy,  tính  thống  nhất  vật  chất  của  thế  giới  vật  chất  là  cơ  sở  của  mối  liên  hệ   giữa  các  sự  vật ,  hiện  tượng .  Tuy  nhiên, các sự  vật , hiện  tượng  chỉ  có  thể  biểu  hiện  sự  tồn  tại  của  mình  thông  qua   sự  vận   động,  tác  động  lẫn  nhau  đồng  thời  nhờ  đó  mà  mối  liên  hệ  giữa  chúng  được  thể   hiện.
        Những   quan  điểm   đúng  đắn  trên  đã  được  khoa  học  kiểm  chứng :  Trong  giới  tự  nhiên  vô  sinh  có  hai  dạng  vật   chất  cơ  bản  là  chất  và  trường.  Ranh  giới  giữa  chất  và  trường  là  tương  đối ,  có  thể  chuyển  hoá  lẫn  nhau.  Trong  giới  tự  nhiên  hữu  sinh   có  các  trình  độ  tổ  chức  vật  chất  là  sinh  quyển ,  các  axít    nucléic  (AND  và  ARN )  và  chất  đản  bạch.  Sự   phát  triển  của  sinh  học  hiện  đại  đã  tìm  ra  được  nhiều  mắt  khâu  trung  gian  chuyển  hoá  giữa  các  trình  độ  tổ  chức  vật  chất,  cho  phép  nối  liền  vô  cơ ,  hữu  cơ và  sự  sống  …  Với  những  cơ  sở  trên ,  triết  học  duy  vật  biện  chứng  đã  đưa  ra  khái  niệm  về  mối  liên  hệ :
              Mối  liên  hệ   là  phạm  trù  triết  học  dùng  để   chỉ  sự  quy  định ,  sự  tác  động  qua  lại ,  sự  chuyển  hoá  lẫn  nhau  giữa  các  sự  vật ,  hiện  tượng  hay  giữa  các  mặt  của  một  sự  vật ,  của  một  hiện  tượng  trong  thế  giới .

1.2   Các  tính  chất  của  mối  liên  hệ
        Mối  liên  hệ  giữa  bất  kỳ  sự  vật ,  hiện  tượng  nào  đều  có  những  đặc  điểm  chung . Đó  là  tính  khách  quan ,  tính  phổ  biến  và  tính  đa  dạng .
        Trước  hết , mối  liên  hệ  giữa  các  sự  vật ,  hiện  tượng  là  tất  yếu,  khách  quan  vốn  có  của  các  sự  vật ,  hiện   tượng  ấy .  Bất  kỳ  sự  vật,  hiện  tượng  nào  tồn  tại  trên   thế  giới  đều  không  thể  tồn  tại  độc  lập,  riêng  biệt  mà  phải  có  sự  liên  hệ  với  bên  ngoài . Bởi  như  đã  nói ,  thế  giới  vật  chất  là  vô  hạn ,  không  sinh  ra ,  không  mất  đi ,  trong  nó  chỉ  có  những  quá  trình  vật   chất  biến  đổi ,  chuyển  hoá  lẫn  nhau .  Con  người  cũng  không   thể  quyết  định  các  sự  vật ,  hiện  tượng  có  mối  liên  hệ  hay  không.  Chẳng  hạn ,  ngay  chính  bản  thân  con  người ,  mặc  dù  là  sinh  vật  bậc  cao   nhất  trong  tự  nhiên  nhưng  cũng  không  thể  tồn  tại  riêng  biệt  .  Từ  thời  nguyên  thuỷ ,  con người  đã  phải  sống  tụ  tập  để  chống  lại  thú  dữ ,  cùng  nhau lao  động  để  kiếm  thức  ăn .  Cho  đến  nay  cuộc  sống  văn  minh ,  hiện  đại  hơn  rất  nhiều  nhưng  con  người  vì   luôn  có  nhu  cầu  hiểu   biết ,  giải trí ,  tình  cảm … Do  đó  con  người  càng  có  sự  liên  hệ  chặt  chẽ  với  xã  hội . Dù  thích  hay  không ,  để  tồn  tại  được ,  con  người  phải  gắn  bó  liên  hệ  với  xã  hội  .
        Thứ  hai ,  mối  liên  hệ  còn  mang  tính  phổ  biến .Vì  mối  liên  hệ  của  các  sự  vật ,  hiện  tượng  mang  tính  khách  quan  nghĩa  là  sự  vật ,  hiện  tượng  nào  cũng  có  các  mối  liên  hệ  nên  mối  liên  hệ   có  tính  phổ  biến .  Một  ví  dụ  điển  hình  là : trong  xu  thế  toàn  cầu  hoá  các  nền  kinh  tế  hiện  nay  và  những  vấn  đề  như  ô  nhiễm  môi  trường ,  bùng  nổ  dân  số ,  bùng  phát  các  bệnh  nguy  hiểm  : HIV – AIDS ,  cúm  gia  cầm , …  đòi  hỏi  tất  yếu  các  quốc  gia  phải  có  sự  hợp  tác  với  các  nước  khác  trên  thế  giới . Mặc  dù ,  mối  liên  hệ   biểu  hiện  dưới  những  hình  thức  riêng  biệt ,  cụ  thể  tuỳ  theo  điều  kiện  nhất  định   nhưng  chúng  cũng  chỉ  là  biểu  hiện  của  mối  liên  hệ  phổ  biến  nhất ,  chung  nhất .  Những  hình  thức  liên  hệ  riêng  rẽ ,  cụ  thể  được  các  nhà  khoa  học  cụ  thể  nghiên  cứu .  Phép  biện  chứng  duy  vật  chỉ  nghiên  cứu  những  mối  liên  hệ   chung  nhất ,  bao  quát  nhất  của  thế  giới . Bởi  thế ,  PH . Ăngghen  viết  : “ Phép  biện  chứng  là  khoa  học  về  sự  liên  hệ  phổ  biến ”  Cũng  với  những  lý  do  nêu  trên ,  triết  học  gọi  mối  liên  hệ   đó  là  mối  liên  hệ  phổ  biến .
        Thứ  ba ,  tính  đa  dạng  của  mối  liên  hệ  phổ  biến .  Vì  thế  giới  vật  chất  vô  hạn ,  các  sự  vật , hiện  tượng  trong  đó  cũng  muôn  hình ,  muôn  vẻ  nên  mối  liên  hệ  của  chúng  cũng  mang  tính  đa  dạng .  Riêng  bản  thân  các  sự  vật  ,  hiện  tượng  luôn  biến  đổi   nên  mối  liên  hệ   của  chúng  với  bên  ngoài  cũng  rất  đa  dạng .  Do  vậy,  bên  trong  một  sự  vật ,  hiện  tượng  cũng  có  thể  chứa  nhiều  mối  liên  hệ . Như  mỗi  con  người  chúng  ta  sống  trong  một  gia  đình  ,  ngoài  mối  liên  hệ   bên  trong  với  các  thành  viên  gia  đình ,  còn  có  mối  liên  với  những  cá  nhân ,  tổ  chức  khác  trong  xã   hội . Vì  vậy ,  mối  liên  hệ  của  chúng  ta  rất  đa  dạng .
1.3    Phân  loại  mối  liên  hệ
        Dựa  vào  tính  đa  dạng  có  thể  phân  chia  ra  các  mối  liên  hệ  khác  theo  từng  cặp  :  mối  liên  hệ bên  trong  và  mối  liên  hệ  bên  ngoài ,  mối  liên  hệ  chủ  yếu  và  mối  liên  hệ   thứ  yếu ,  mối  liên  hệ  bản  chất  và  mối  liên  hệ  không  bản  chất ,  mối  liên  hệ  tất  nhiên  và  mối  liên  hệ  ngẫu  nhiên ,  mối  liên  hệ   chung  bao  quát  toàn  bộ  thế  giới   và  mối  liên  hệ  riêng  bao  quát  một  lĩnh  vực  hoặc  một  số  lĩnh  vực  của  thế  giới ,  mối  liên  hệ   trực  tiếp  và  mối  liên  hệ   gián  tiếp ,  trong  đó   sự  tác  động  qua  lại  phải  thông  qua  trung  gian  mới  thực  hiện  được ,  mối  liên  hệ   giữa  các  sự  vật   và  mối  liên  hệ   giữa  các   mặt  hay  giữa  các  giai  đoạn  phát  triển  của  sự  vật  để  tạo  thành  lịch  sử  phát  triển  của  sự  vật   v.v…  Tuy  nhiên  sự   phân  chia  các  cặp  chỉ  mang  tính  chất  tương  đối .  Mỗi  loại  mối  liên  hệ   trong  từng  cặp  đều  có  thể  chuyển  hoá  cho  nhau  tuỳ  theo  phạm  vi  bao  quát  của  mối  liên  hệ   hoặc  do  kết  quả  biến  đổi   vận  động  và  phát  triển  của  sự  vật .  Cụ  thể  như :  nếu  xét  mối  liên  hệ   của  các  thành  viên  trong  gia  đình  với  xã  hội  bên  ngoài   thì  nó  là  mối  liên  hệ  bên  ngoài  . Nhưng  nếu  xét  mối  liên  hệ  đó  trong  một  quốc  gia  ,  để  phân  biệt  các  quốc  gia  khác  nhau (  có  sự  khác  nhau  về  chế  độ  chính  trị ,  kinh  tế ,  văn  hóa ,  tôn  giáo  … )  thì  nó  lại  là  mối  liên  hệ  bên  trong  . Nếu  xét  mối  liên  hệ  giữa  các  công  ty ,  xí  nghiệp  là  những  chủ  thể  độc  lập  kinh  doanh  trên  một  đất  nước  thì  chúng  có  mối  liên  hệ   bên  ngoài .  Tuy  nhiên  xét  tổng  quát  nền  kinh  tế  đất  nước ,   chúng  là  những  bộ  phận  đóng  góp ,  xây  dựng  nền  kinh  tế  nên  mối  liên  hệ   của  chúng  lúc  này  là  mối  liên  hệ  bên  trong .

 
 
 

Copyright © 2011  KHODETAI.COM  All rights reserved.

cung cấp iphone cudien thoai sky |   thiet ke web gia re son nha | Thi cong ep coc be tong | cho thue xe cau tại hà nội | xu ly nuoc thai  | website mien phi

(Những tài liệu có được từ website chỉ có tính chất tham khảo để nhận xét, rút kinh nghiệm và rút ra cách thức cho công việc của mình, yêu cầu không sao chép. Website  đang trong quá trình thử nghiệm mong nhận được sự góp ý của các bạn.)

 

Thu nhỏ
xe cau tu hanh
cua cuon
duy long