Lời nói đầu
Phát triển kinh tế là đòi hỏi tất yếu với mỗi quốc gia nếu các quốc gia đó không muốn bị suy vong , thôn tính . Từ giữa thế kỷ 20 đến nay , cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ , kinh tế các nước phát triển rất mạnh mẽ đồng thời môi trường sống của con người cũng đã bị tàn phá hết sức nặng nề. Vấn đề nan giải được đặt ra tại nhiều quốc gia hiện nay là : làm thế nào tăng trưởng kinh tế mạnh mà không tàn phá môi trường tự nhiên . Để giải quyết vấn đề này , tăng trưởng kinh tế phải kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái . Cơ sở lý luận cho vấn đề này đúng đắn nhất chỉ có thể là triết học Mác – Lênin . Do đó , tiểu luận này được làm với mục đích : phân tích rõ mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái dựa trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của triết học Mác - Lênin và việc thực hiện vấn đề này ở Việt Nam ta. Tuy nhiên , trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiếu sót , em rất mong nhận được sự góp ý và chỉnh sửa của cô .
Chương 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1 Khái niệm mối liên hệ Từ xa xưa, con người luôn có khát vọng tìm hiểu , khám phá thế giới xung quanh , vén bức màn bí mật chi phối đời sống tự nhiên và xã hội . Do đó , con người luôn thắc mắc : Các sự vật , hiện tượng , quá trình có tác động qua lại lẫn nhau hay không hay chúng tồn tại độc lập , riêng biệt ? Và nếu chúng có mối liên hệ với nhau thì cái gì quyết định , chi phối mối liên hệ ấy ? Trong những giai đoạn khác nhau , câu trả lời cho các vấn đề trên rất khác nhau . Đối với vấn đề thứ nhất , trong lịch sử triết học , ta thấy hai quan niệm lớn sau : Theo chủ nghĩa duy vật siêu hình thì thế gới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt động , tĩnh tại . Với cách nhìn này thì con người “chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy , chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy , chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy , chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng .” Như vậy , các sự vật , hiện tượng trên thế giới đều không có mối liên hệ với nhau . Tuy nhiên có một số ít người theo quan điểm này cho rằng : các sự vật , hiện tượng có mối liên hệ với nhau nhưng các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hoá lẫn nhau , như giới vô cơ và hữu cơ không có liên hệ gì với nhau và không chuyển hoá cho nhau . Đối lập với quan điểm trên thì chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng các sự vật , hiện tượng , quá trình khác nhau tồn tại độc lập nhưng đều có sự tác động qua lại , chuyển hoá lẫn nhau . Ví dụ như : môi trường của một đất nước biến đổi không chỉ tác động tới đời sống kinh tế - xã hội ở nước đó mà còn làm cho môi trường thế giới thay đổi theo , vì môi trường của một đất nước là một bộ phận của môi trường thế giới . Từ đó, các hoạt động của con người , giới tự nhiên thế giới cũng chịu ảnh hưởng dù ít hay nhiều. Trả lời vấn đề thứ hai , những nhà duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan đều đi tìm câu trả lời xuất phát từ bên ngoài hoặc bên trong con người . Theo các nhà triết học duy tâm khách quan như Platon , Hêghen cho rằng “ ý niệm tuyệt đối ” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng . Còn Beccli , nhà triết học duy tâm chủ quan đã đưa ra một mệnh đề nổi tiếng : “ Vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của cảm giác ”. Điều này có nghĩa là : mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng được nhận biết dựa trên cảm giác của con người . Các nhà duy vật biện chứng đã có quan điểm hoàn toàn khác với các quan điểm trên . Họ thấy rằng , tuy trong thế giới xung quanh ta , các sự vật , hiện tượng thì vô cùng đa dạng , phong phú nhưng chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất . Điều này có nghĩa là mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất , biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất , là những kết cấu vật chất , hoặc có nguồn gốc vật chất , do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất . Các sự vật , hiện tượng luôn không ngừng biến đổi , chuyển hoá , là nguồn gốc , nguyên nhân và kết quả của nhau. Do vậy, tính thống nhất vật chất của thế giới vật chất là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng . Tuy nhiên, các sự vật , hiện tượng chỉ có thể biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tác động lẫn nhau đồng thời nhờ đó mà mối liên hệ giữa chúng được thể hiện. Những quan điểm đúng đắn trên đã được khoa học kiểm chứng : Trong giới tự nhiên vô sinh có hai dạng vật chất cơ bản là chất và trường. Ranh giới giữa chất và trường là tương đối , có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong giới tự nhiên hữu sinh có các trình độ tổ chức vật chất là sinh quyển , các axít nucléic (AND và ARN ) và chất đản bạch. Sự phát triển của sinh học hiện đại đã tìm ra được nhiều mắt khâu trung gian chuyển hoá giữa các trình độ tổ chức vật chất, cho phép nối liền vô cơ , hữu cơ và sự sống … Với những cơ sở trên , triết học duy vật biện chứng đã đưa ra khái niệm về mối liên hệ : Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định , sự tác động qua lại , sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật , hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật , của một hiện tượng trong thế giới .
1.2 Các tính chất của mối liên hệ Mối liên hệ giữa bất kỳ sự vật , hiện tượng nào đều có những đặc điểm chung . Đó là tính khách quan , tính phổ biến và tính đa dạng . Trước hết , mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng là tất yếu, khách quan vốn có của các sự vật , hiện tượng ấy . Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào tồn tại trên thế giới đều không thể tồn tại độc lập, riêng biệt mà phải có sự liên hệ với bên ngoài . Bởi như đã nói , thế giới vật chất là vô hạn , không sinh ra , không mất đi , trong nó chỉ có những quá trình vật chất biến đổi , chuyển hoá lẫn nhau . Con người cũng không thể quyết định các sự vật , hiện tượng có mối liên hệ hay không. Chẳng hạn , ngay chính bản thân con người , mặc dù là sinh vật bậc cao nhất trong tự nhiên nhưng cũng không thể tồn tại riêng biệt . Từ thời nguyên thuỷ , con người đã phải sống tụ tập để chống lại thú dữ , cùng nhau lao động để kiếm thức ăn . Cho đến nay cuộc sống văn minh , hiện đại hơn rất nhiều nhưng con người vì luôn có nhu cầu hiểu biết , giải trí , tình cảm … Do đó con người càng có sự liên hệ chặt chẽ với xã hội . Dù thích hay không , để tồn tại được , con người phải gắn bó liên hệ với xã hội . Thứ hai , mối liên hệ còn mang tính phổ biến .Vì mối liên hệ của các sự vật , hiện tượng mang tính khách quan nghĩa là sự vật , hiện tượng nào cũng có các mối liên hệ nên mối liên hệ có tính phổ biến . Một ví dụ điển hình là : trong xu thế toàn cầu hoá các nền kinh tế hiện nay và những vấn đề như ô nhiễm môi trường , bùng nổ dân số , bùng phát các bệnh nguy hiểm : HIV – AIDS , cúm gia cầm , … đòi hỏi tất yếu các quốc gia phải có sự hợp tác với các nước khác trên thế giới . Mặc dù , mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt , cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định nhưng chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất , chung nhất . Những hình thức liên hệ riêng rẽ , cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu . Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất , bao quát nhất của thế giới . Bởi thế , PH . Ăngghen viết : “ Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến ” Cũng với những lý do nêu trên , triết học gọi mối liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến . Thứ ba , tính đa dạng của mối liên hệ phổ biến . Vì thế giới vật chất vô hạn , các sự vật , hiện tượng trong đó cũng muôn hình , muôn vẻ nên mối liên hệ của chúng cũng mang tính đa dạng . Riêng bản thân các sự vật , hiện tượng luôn biến đổi nên mối liên hệ của chúng với bên ngoài cũng rất đa dạng . Do vậy, bên trong một sự vật , hiện tượng cũng có thể chứa nhiều mối liên hệ . Như mỗi con người chúng ta sống trong một gia đình , ngoài mối liên hệ bên trong với các thành viên gia đình , còn có mối liên với những cá nhân , tổ chức khác trong xã hội . Vì vậy , mối liên hệ của chúng ta rất đa dạng . 1.3 Phân loại mối liên hệ Dựa vào tính đa dạng có thể phân chia ra các mối liên hệ khác theo từng cặp : mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài , mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu , mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất , mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên , mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực của thế giới , mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp , trong đó sự tác động qua lại phải thông qua trung gian mới thực hiện được , mối liên hệ giữa các sự vật và mối liên hệ giữa các mặt hay giữa các giai đoạn phát triển của sự vật để tạo thành lịch sử phát triển của sự vật v.v… Tuy nhiên sự phân chia các cặp chỉ mang tính chất tương đối . Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp đều có thể chuyển hoá cho nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả biến đổi vận động và phát triển của sự vật . Cụ thể như : nếu xét mối liên hệ của các thành viên trong gia đình với xã hội bên ngoài thì nó là mối liên hệ bên ngoài . Nhưng nếu xét mối liên hệ đó trong một quốc gia , để phân biệt các quốc gia khác nhau ( có sự khác nhau về chế độ chính trị , kinh tế , văn hóa , tôn giáo … ) thì nó lại là mối liên hệ bên trong . Nếu xét mối liên hệ giữa các công ty , xí nghiệp là những chủ thể độc lập kinh doanh trên một đất nước thì chúng có mối liên hệ bên ngoài . Tuy nhiên xét tổng quát nền kinh tế đất nước , chúng là những bộ phận đóng góp , xây dựng nền kinh tế nên mối liên hệ của chúng lúc này là mối liên hệ bên trong .
|