Gia su | day kem |   xây nhà  | Hoan thien nha

    Thứ hai, Ngày 20/10/2014
Trang chủ Hướng dẫn Đăng ký thành viên  
 
TÀI KHOẢN
Username
Password
 Đăng ký thành viên
 Quên mật khẩu
 Báo cáo TT, đề án môn học
 Bảo hiểm, bảo hành
 Cạnh tranh, thương mại
 Chất lượng sản phẩm
 Chi phí, giá thành
 Chuyên đề kỹ thuật
 Du lịch, Khách sạn
 Hoạt động đấu thầu
 Huy động và sử dụng vốn
 Kế toán, Kiểm toán
 Kinh tế đầu tư
 Lao động, tiền lương
 Luật , thuế, hợp đồng
 Marketing, Quảng cáo
 Ngân hàng - Tài chính
 Nguyên vật liệu
 Nông , lâm, ngư nghiệp
 Quản trị kinh doanh
 Quản trị nhân lực
 Tài liệu tổng hợp
 Thể loại khác
 Thống kê , kiểm kê
 Tiểu luận KTCT, Triết ..
 Tiêu thụ sản phẩm
 Tin học, Ứng dụng
 Triết học, CNXH, Đảng
 Xuất nhập khẩu
1 - 79110279
 
Loading

Khuyến mại đặc biệt điện thoại tại duylongmobile.net

  • Điện thoại  sky A870 Hàn Quốc giá chỉ còn 4 triệu
  • Điện thoại  Samsung galaxy S2 hd Hàn Quốc giá chỉ còn 2,6 triệu
  • Điện thoại Sky A830 màn hính lớn giá chỉ còn 2 triệu
  • Điện thoại  LG Optimus G giá chỉ còn 3,2 triệu
  • Điện thoại LG Optimus LTE 2 giá chỉ còn 2,3 triệu

Tiểu luận KTCT, Triết ..

   Nội dung - Quy luật giá trị thăng dư

Số trang: 13 Trang
Loại file: MS word
Phí: 3.000 Xu
Download
  Thông tin chi tiết
LỜI GIỚI THIỆU
   

  Việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng sản xuất ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhờ đó không những các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu ngạch cao mà đời sống của những người lao động tại nghiệp cũng được cải thiện và hình thành tầng lớp trung lưu trong xã hội.
   Trước thực tế đó, cộng thêm sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung quan liêu ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người nghi ngờ tính đúng đắn của khoa học kinh tế chính trị Mác- Lênin, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư “hòn đá tảng” trong các học thuyết kinh tế của Mác.
   Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư tấn công vào “hòn đá tảng” này bằng nhiều luận điểm khác nhau. Phê phán những luận điểm đó, chúng ta tập trung vào việc nghiên cứu máy móc và lao động  trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư để giải thích quan niệm trên.

I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG

1) Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:
   Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản đã tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn công nghiệp cơ khí. Máy móc xuất hiện vào thế kỷ 17 và ngày càng được hoàn thiện. ở thời kỳ cách mạng công nghiệp, thông thường  các máy móc đều gồm ba bộ phận cơ bản. Máy móc không ngừng được cải tiến, phát triển, hình thức hoàn thiện nhất của nó hiện nay là máy tự động người máy. Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản lúc đầu máy móc được sử dụng từng chiếc trong từng xí nghiệp. Về sau nhờ chế tạo ra máy phát lực mạnh nên chỉ một máy động lực cũng có thể làm cho nhiều máy công tác hoạt động.
   Nhiều máy công tác hoạt động do máy lực trung tâm thông qua một hệ thống chuyển lực thống nhất, gọi là hệ thống máy móc. Hệ thống máy móc có thể là sự hiệp tức giản đơn của nhiều máy công tác cùng loại hoặc là sự hiệp tác của nhiều máy công tác khác nhau nhưng liên kết với nhau.
   Sự phát triển của máy móc thành hệ thống máy móc đề ra công xưởng. Công xưởng là xí nghiệp đại công nghiệp sử dụng cả một hệ thống máy móc để sản xuất . Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua cuộc cách mạng công nghiệp. Về thực chất, đó là cuộc cách mạng kỹ thuật thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Kỹ thuật cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, bảo đảm sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản với chế độ phong kiến, xác lập sự thống trị tuyệt đối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên toàn xã hội.   
    Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng. giá trị của hàng hoá trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào trong đó để bù lại tư bản khả biến đã được dùng để mua sức lao động (ngang  với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra ngoài giá trị sức lao động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao động sống.
     Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó chỉ đúng trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu thế, còn ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư
   Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
 Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
b. Giá trị hàng hoá: muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
   Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá.
   Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở tư liệu sản xuất)
   Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.
 Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung  giống nhau là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
   Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi.
   Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá.
   Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động có mục đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao động (quan trọng hơn cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian.
    Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị.
   Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất, trong đó có mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình  lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất.
   C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy, thiết bị, máy móc chỉ tạo đIều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị.
   ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó  là do công nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
   Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế thị trường khắc nghiệt dựa trên nguyên tắc “ mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Kẻ thắng nhận được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị trừng phạt, không thu lại đủ số lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng bằng khoản “ cúp phạt” nghĩa là không vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư đã được tạp ra trong lĩnh vực sản xuất.
    Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ  quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi sâu vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là đIều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh.
     Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa.
   Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc  ứng dụng công nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và hỗ trợ những người nghèo.
    Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của người lao động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải bao giờ máy móc cũng là đIều kiện để thu được nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn.
   Việc nhận thức máy móc  chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế.
   Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh càng tốt, nhằm tránh  hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình do bảo quản kém hoặc sử dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khấu hao nhanh như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm

 
 
 

Copyright © 2011  KHODETAI.COM  All rights reserved.

cung cấp iphone cudien thoai sky |   thiet ke web gia re son nha | Thi cong ep coc be tong | cho thue xe cau tại hà nội | xu ly nuoc thai  | website mien phi

(Những tài liệu có được từ website chỉ có tính chất tham khảo để nhận xét, rút kinh nghiệm và rút ra cách thức cho công việc của mình, yêu cầu không sao chép. Website  đang trong quá trình thử nghiệm mong nhận được sự góp ý của các bạn.)

 

Thu nhỏ
xe cau tu hanh
duy long