PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong quá trình ra đời và phát triển, chủ nghĩa tư bản đã thực hiện được sự phát triển về phân công, hiệp tác lao động, tập trung hoá và liên hiệp hoá sản xuất. Kết quả là đã biến nhiều quá trình kinh tế riêng lẻ thành quá trình kinh tế thống nhất hữu cơ với nhau. Cùng với đà phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình xã hội hoá sản xuất cũng đạt được những bước tiến lớn, với trình độ cao. Xã hội hoá diễn ra ở trình độ cao hơn khi chủ nghĩa tư bản chuyển lên giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước. Xã hội hoá sản xuất gắn với hai cuộc cách mạng kỹ thuật mà thế giới đã trải qua, trong đó các nước tư bản là người có công đầu. Tất nhiên, những thành tựu này là do nhân loại sáng tạo ra được các nước tư bản vận dụng. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất đã đưa năng suất lao động tăng lên chưa từng có trong lịch sử. Nhờ đó hoạt động của quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích luỹ cùng với các quy luật kinh tế khác, đã làm cho cơ chế thị trường vận động và phát triển. Chủ nghĩa tư bản càng có nhiều điều kiện và khả năng lợi dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, sử dụng có hiệu quả hơn nữa cơ sở vật chất - kỹ thuật đã được tạo ra. C.Mác đã nhận xét xác đáng rằng trong vòng chưa đầy một thế kỷ thống trị của mình, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra được một sức sản xuất khổng lồ bằng tất cả các thế hệ loài người trước đó đã tạo ra. Có thể nói, loài người đã sống lâu dài trong nền sản xuất nhỏ lạc hậu, phân tán, năng suất thấp kém, không đảm bảo duy trì tái sản xuất giản đơn. Từ đầu thế kỷ XVI đến nay, lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản đã chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với những đặc trưng khác về chất so với sản xuất nhỏ. Sự thắng lợi này diễn ra đầu tiên từ nước Anh rồi lần lượt sang các nước khác. Nền sản xuất lớn hiện đại đã và đang là niềm mơ ước của hàng trăm nước trên hành tinh chúng ta. Bên cạnh mặt tích cực nói trên, chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát sinh và phát triển của nó đã gây ra không ít hậu quả. Chủ nghĩa tư bản là thủ phạm gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh, đáng chú ý là hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Trong quá trình công nghiệp hoá và chạy đua vũ trang, chủ nghĩa tư bản làm cho môi trường bị ô nhiễm. Chủ nghĩa tư bản cũng phải chịu trách nhiệm về nạn nghèo đói, bệnh tật của hàng trăm triệu người, nhất là ở các nước chậm phát triển. Để thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trình bày những nguyên nhân dẫn đến điều chỉnh và các biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền” cho bài tiểu luận của mình.
PHẦN II: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI
I- BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI: Bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng có quá trình ra đời, phát triển, suy yếu và tiêu vong. Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản cho tới nay, chúng ta thấy nó đã trải qua các thời kỳ: ă Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII: Đây là thời kỳ hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đặc trưng về kinh tế của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ này là tích luỹ nguyên thuỷ (thế kỷ XV, XVI) và sự phát triển của công trường thủ công. ă Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX: Đây là thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước tư bản phát triển như Anh và Pháp. Lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc. Nền kinh tế này diễn ra theo nguyên tắc tự do, còn gọi là giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản. ă Từ cuối thế kỷ XIX ,đầu thế kỷ XX cho tới chiến tranh thế giới thứ hai: Đây là thời kỳ độc quyền tư nhân của chủ nghĩa tư bản với năm đặc điểm kinh tế cơ bản mà Lênin đã khái quát trong tác phẩm “ Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Trong thời kỳ này diễn ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực chất là sự tranh giành thuộc địa giữa hai phe đế quốc già (Anh, Pháp, Nga) và trẻ (Đức, Mỹ, Nhật). ă Từ sau chiến tranh thế giới thứ II tới nay: Chủ nghĩa tư bản chuyển sang thời kỳ độc quyền Nhà nước với sự xuất hiện của sở hữu nhà nước và các hoạt động can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước vào các quá trình kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh ngày nay, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đang tác động một cách mạnh mẽ đến mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi quốc gia trên thế giới và kinh tế thị trường đang ngày càng chứng tỏ những ưu thế của nó và được các quốc gia sử dụng như một công cụ để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hơn thế nữa, xu hướng hội nhập mở cửa ngày càng tác động mạnh, đã liên kết các quốc gia lại với nhau để giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội mang tính toàn cầu. Vì vậy, ta có thể xác định bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại là chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, phát triển gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế thị trường hiện đại và xu hướng toàn cầu hoá. Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản hiện đại là chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước: Thực ra thì chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước đã có mầm mống ngay từ trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong thời gian này, các cường quốc tư bản độc quyền tham gia vào cuộc chiến tranh nhằm phân chia lại lãnh thổ thế giới lần thứ nhất. Để giành thắng lợi trong cuộc chiến, các nhà tư sản đã phải trực tiếp can thiệp vào các quá trình kinh tế để chiếm đoạt thị trường, duy trì các điều kiện trong nước và quốc tế có lợi nhằm đảm bảo sự ổn định về lợi nhuận cho các tổ chức độc quyền. Tuy vậy, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bước vào một thời kỳ phát triển tương đối ổn định nên chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước lại tạm thời lắng xuống. Cho tới khi lý thuyết kinh tế của Keynes ra đời và cũng là để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước lại phát triển. Và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự xuất hiện của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và
|