Gia su | day kem |   xây nhà  | Hoan thien nha

    Thứ ba, Ngày 21/10/2014
Trang chủ Hướng dẫn Đăng ký thành viên  
 
TÀI KHOẢN
Username
Password
 Đăng ký thành viên
 Quên mật khẩu
 Báo cáo TT, đề án môn học
 Bảo hiểm, bảo hành
 Cạnh tranh, thương mại
 Chất lượng sản phẩm
 Chi phí, giá thành
 Chuyên đề kỹ thuật
 Du lịch, Khách sạn
 Hoạt động đấu thầu
 Huy động và sử dụng vốn
 Kế toán, Kiểm toán
 Kinh tế đầu tư
 Lao động, tiền lương
 Luật , thuế, hợp đồng
 Marketing, Quảng cáo
 Ngân hàng - Tài chính
 Nguyên vật liệu
 Nông , lâm, ngư nghiệp
 Quản trị kinh doanh
 Quản trị nhân lực
 Tài liệu tổng hợp
 Thể loại khác
 Thống kê , kiểm kê
 Tiểu luận KTCT, Triết ..
 Tiêu thụ sản phẩm
 Tin học, Ứng dụng
 Triết học, CNXH, Đảng
 Xuất nhập khẩu
1 - 79131359
 
Loading

Khuyến mại đặc biệt điện thoại tại duylongmobile.net

  • Điện thoại  sky A870 Hàn Quốc giá chỉ còn 4 triệu
  • Điện thoại  Samsung galaxy S2 hd Hàn Quốc giá chỉ còn 2,6 triệu
  • Điện thoại Sky A830 màn hính lớn giá chỉ còn 2 triệu
  • Điện thoại  LG Optimus G giá chỉ còn 3,2 triệu
  • Điện thoại LG Optimus LTE 2 giá chỉ còn 2,3 triệu

Tiểu luận KTCT, Triết ..

   Phép biện chứng trong triết học trung đại

Số trang: 16 Trang
Loại file: MS word
Phí: 3.000 Xu
Download
  Thông tin chi tiết
I.    ĐẶT VẤN ĐỀ

Phép biện chứng là một khoa học triết học, xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học. Nó là học thuyết của các mặt đối lập, cho nên vấn đề của phép biện chứng là vấn đề lý giải sự phát triển tính mâu thuẫn của tự nhiên và tư duy về đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, về các vấn đề gắn liền với nó. Hơn nữa, phép biện chứng không chỉ là một trong các học thuyết và các phương pháp bên cạnh các học thuyết và các phương pháp khác mà nó còn là thước đo căn bản cho sự tiến bộ của nhân loại. Như vậy, lịch sử phép biện chứng đã hình thành và phát triển từ khi triết học ra đời mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng macxít dựa trên truyền thống tư tưởng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới. Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là nhân tố cơ bản để hình thành thế giới mà là tiền đề tiên quyết cho sự sáng tạo của con người.

II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 
     Phép biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, cũng như hình ảnh tinh thần của chúng có quan hệ qua lại với nhau, không ngừng vận động và phát triển. Trong đó vận động được hiểu là tự vận động, còn phát triển là phát triển tự thân, phát triển thông qua mâu thuẫn, là sự chuyển hoá trạng thái này thành trạng thái cao hơn, một sự vật này thành sự vật khác mới về chất.
Phép biện chứng đã trải qua một lịch sử  hơn 2000 năm với 4 hình thức cơ bản:
1.    Phép biện chứng cổ đại được coi là nền tảng cho các nền triết học sau này tiêu biểu bằng ba nền triết học cổ đại
a)    Triết học Trung Hoa cổ đại:
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có lịch sử lâu đời. Những biểu hiện tôn giáo, triết học cũng như tư tưởng biện chứng đã xuất hiện rất sớm ở xã hội Trung Hoa cổ đại. Và đặc biệt là từ thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc trở đi. Nguyên nhân là do xã hội Trung Hoa thời bấy giờ là xã hội đánh dấu sự tan rã của xã hội của chế độ nô lệ và hình thành các quan hệ xã hội phong kiến hết sức phức tạp. Hơn nữa, cũng là do các đặc điểm kinh tế có liên quan tới quá trình biến động xã hội này là sự hình thành nhanh chóng các chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất. Vì vậy đã làm xuất hiện hàng loạt các tư tưởng triết học khác nhau để giải quyết nhu cầu của xã hội trong đó tiêu biểu là những hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng tới mãi về sau này trong lịch sử phong kiến Trung Quốc như đạo Nho, đạo Lão v.v..
    Phép biện chứng biến dịch là một nét đặc sắc của triết học Trung Hoa đồng thời nó cũng tiêu biểu cho phái Nho gia ( Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử ). Triết lý âm dương đi sâu vào sự suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn hữu. Theo thuyết âm dương thì mọi sự biến hoá vô cùng, vô tận, thường xuyên của vạn hữu đều có thể quy về nguyên nhân của sự tương tác giữa hai thế lực đối lập vốn có của Âm và Dương. Các nhà biện chứng thuộc phái này cho rằng trời đất luôn luôn biến đổi không ngừng và có tính quy luật. Nguyên nhân của mọi biến hoá là do sự giao cảm của hai mặt đối lập như âm dương, nước và lửa, đất và trời. Chính trị-xã hội cũng theo đó mà biến đổi theo quy luật tự nhiên đó. Tuy nhiên hạn chế của phép biện chứng này là ở chỗ coi sự biến hoá chỉ có tính chất tuần hoàn theo chu kỳ khép kín, không có sự phát triển, không có sự xuất hiện cái mới.  
    Đạo Lão ( Lão Tử, Dương Chu, Trang Chu ) với tư tưởng coi đạo là nguyên lý duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của vũ trụ, hiện tượng đã thể hiện những tư tưởng biện chứng. Tư tưởng đó là mọi hiện hữu đều biến dịch. Sự biến dịch này theo hai nguyên tắc cơ bản: quân bình và phản phục.”Cái gì cũ sẽ mới”,”cái gì khuyết ắt tròn đầy”...Tư tưởng phản phục nói lên nguyên lý vận hành phi phát triển của hiện hữu. Hay là tư tưởng các mặt đối lập trong một thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này có cái kia: “Đẹp tức có xấu, dài ngắn tựa vào nhau. Cao thấp liên hệ với nhau,...” . Nhưng điều hạn chế của tư tưởng này là ở chỗ do các nhà biện chứng nhấn mạnh nguyên tắc quân bình và phản phục trong biến dịch, cho nên họ không đề cao tư tưởng đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn mà nhấn mạnh điều hoà của các mặt đối lập.
Tóm lại, hạn chế chung của tư tưởng biện chứng Trung Hoa cổ đại đó là không chú ý đến quá trình phát triển, không coi trọng cái mới.
b)    Triết học Ấn Độ cổ đại:
     Xã hội cổ đại Ấn Độ là xã hội mang tính chất công xã nông thôn với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã (đạo Bàlamôn) và dai dẳng của 4 đẳng cấp xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện dân (nô lệ). Tư tưởng tôn giáo rất phát triển trong xã hội cổ đại Ấn Độ đã đan xen vào triết học làm nên nét đặc thù của triết học cổ đại Ấn Độ. Vào thời kỳ này nhiều tri thức  về khoa học tự nhiên cũng ra đời và làm cơ sở cho nhận thức của chủ nghĩa duy vật. Tất cả những yếu tố như kinh tế, chính trị, và tri thức khoa học đó đã hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát sinh và phát triển của những tư tưởng triết học-tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
    Phép biện chứng thô sơ cũng là một giá trị của triết học cổ đại Ấn Độ. Có thể nói, các tư tưởng biện chứng đều được thể hiện trong các giáo lý, giáo điều của các giáo phái. Tiêu biểu là tư tưởng đạo Phật sơ kỳ và đạo Jaina.
     Những tư tưởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ được Ph.Ănghen đánh giá là “hết sức sâu sắc” . Có thể nói, những tư tưởng triết học về bản thể và phép biện chứng luôn là giá đỡ cho các luận điểm về nhân sinh. Tư tưởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ được trình bày tập trung trong các luận điểm: nhân-duyên-sinh, vô ngã, vô thường. Theo tinh thần triết lý này thì vạn vật không do một uy lực thần linh nào chi phối, mà tất cả đều chịu tác động của luật. Nhân-duyên-sinh ( hay nhân-quả), theo quá trình sinh-trụ-hoại-không. Và cũng vì vậy không có cái gì là thường hằng bất biến ( vô ngã ) và cũng không có cái gì là thường hằng không đổi ( vô thường )-tức là trên bình diện tồn tại của hai chiều không gian và thời gian đều biến động.
     Tư tưỏng biện chứng của Jaina thể hiện ở học thuyết không tuyệt đối (tức là tuơng đối). Nó cho rằng tồn tại đầu tiên là bất biến vô thuỷ, vô chung, biến chuyển là không ngừng. Theo Jaina, tồn tại vừa bất biến, vừa biến chuyển. Cái vĩnh hằng là bản thể, còn cái không vĩnh hằng, luôn luôn biến đổi, là các dạng của bản thể. Đó là một mâu thuẫn mà con người cần phải chấp nhận. Tuy nhiên. phép biện chứng của triết học cổ đại Ấn Độ còn nhiều hạn chế như coi linh hồn con người là bất tử (đạo Phật) hay là có quan niệm về biện chứng chưa triệt để (thể hiện ở những phán đoán về thế giới hiện tượng của phái Jaina).
    Qua một số các học thuyết triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ đại, chúng ta có thể thấy được những tư tưởng biện chứng của những nguyên tắc về sự vận động, biến dịch của vũ trụ hiện hữu. Nhưng ở đây có thể nói nguyên tắc về sự thăng bằng của biến động đã được đặc biệt quan tâm. Trong khi đó những nguyên lý và nguyên tắc về sự biến động phát triển về cơ bản chưa được khai thác.

 
 
 

Copyright © 2011  KHODETAI.COM  All rights reserved.

cung cấp iphone cudien thoai sky |   thiet ke web gia re son nha | Thi cong ep coc be tong | cho thue xe cau tại hà nội | xu ly nuoc thai  | website mien phi

(Những tài liệu có được từ website chỉ có tính chất tham khảo để nhận xét, rút kinh nghiệm và rút ra cách thức cho công việc của mình, yêu cầu không sao chép. Website  đang trong quá trình thử nghiệm mong nhận được sự góp ý của các bạn.)

 

Thu nhỏ
xe cau tu hanh
duy long